Chính trị

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo 8 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Ngày đăng 30/06/2026 15:45

Sáng 30-6, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Hội nghị được tổ chức trực tuyến, kết hợp trực tiếp từ điểm cầu chính tại Nhà Quốc hội (Thủ đô Hà Nội) đến hơn 35.000 điểm cầu trên cả nước với gần 2,1 triệu cán bộ, đảng viên tham dự.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự tại điểm cầu Trung ương

Tham dự hội nghị có các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú;  các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng và lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương...

Đại biểu thành phố Hà Nội dự tại điểm cầu Trung ương có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Trần Đức Thắng; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng. Dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Trọng Đông; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Phùng Thị Hồng Hà; Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy; Thường trực HĐND, UBND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố...

Hội nghị còn được phát trực tiếp trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số để nhân dân cả nước theo dõi.

Các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội

Mở đầu, hội nghị đã xem phim với chủ đề: “40 năm thu hút đầu tư nước ngoài”. Tiếp đó, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã truyền đạt nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo đồng chí Phạm Gia Túc, sau gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng, huy động trên 549 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập và nâng cao vị thế của đất nước. Tuy nhiên, trước bối cảnh khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cùng sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu, mô hình phát triển hiện nay đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi tư duy phát triển mới.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững với sáu chuyển đổi lớn về tư duy phát triển, trong đó nổi bật là chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; từ ưu tiên quy mô sang chất lượng, hiệu quả; từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả; từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư; đồng thời tăng cường điều phối phát triển ở tầm quốc gia và phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD; 70-75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, trên 50% tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, Nghị quyết xác định bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm đổi mới nhận thức; hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng; thu hút đầu tư thế hệ mới; nâng cao hiệu quả liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển thị trường vốn và đầu tư gián tiếp; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nghị quyết cũng yêu cầu các cấp, các ngành khẩn trương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực quốc tế gắn với nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng phát biểu tham luận tại hội nghị

Tại hội nghị, đại diện Thành ủy Hà Nội, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy Đà Nẵng và lãnh đạo một số doanh nghiệp FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) đã phát biểu tham luận, nêu quan điểm nhận xét về Nghị quyết số 10-NQ/TW và kiến nghị đề xuất. Các ý kiến tham luận đều bày tỏ ủng hộ, đánh giá cao Nghị quyết số 10-NQ/TW, đồng thời khẳng định trách nhiệm đồng hành và thực hiện. Đặc biệt, đại diện các doanh nghiệp FDI đều cam kết đồng hành cùng Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết.

Trong tham luận với chủ đề: “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học, công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố khẳng định, đối với Hà Nội, việc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hà Nội xác định sẽ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, đồng thời góp phần xây dựng nền tảng nhân lực, tri thức và đổi mới sáng tạo cho vùng Thủ đô và cả nước.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự tại điểm cầu Trung ương

Từ thực tiễn triển khai cho thấy, vẫn còn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp; liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa thật sự trở thành cơ chế vận hành thường xuyên, thực chất. Hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ… trong một số lĩnh vực chiến lược còn chưa tương xứng với tiềm năng của Thủ đô. Theo Chủ tịch UBND Thành phố, từ nhận thức đó, Hà Nội xác định tập trung vào năm định hướng lớn:

Một là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thu hút FDI thế hệ mới.

Hai là, đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp FDI và các ngành công nghệ chiến lược.

Ba là, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo theo mô hình mạng lưới mở, tạo nền tảng thu hút các trung tâm R&D và các dự án FDI công nghệ cao.

Bốn là, phát triển mạnh nguồn nhân lực số, coi đây là điều kiện nền tảng để thu hút đầu tư vào chuyển đổi số và kinh tế số.

Năm là, xây dựng Hà Nội trở thành nơi hội tụ nhân tài, công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực.

Đồng chí Vũ Đại Thắng nhấn mạnh: “Trong kỷ nguyên phát triển mới, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là "hạ tầng mềm" quan trọng nhất của mỗi quốc gia và mỗi địa phương. Với vị thế và trách nhiệm của Thủ đô, Hà Nội cam kết tiếp tục tiên phong triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm hội tụ nhân tài, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của cả nước, đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến của các dòng vốn đầu tư chất lượng cao và các ngành công nghiệp chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08-6-2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đây là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia; làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.

Để đạt được những mục tiêu cao này, đòi hỏi phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài.

Trong triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW phải gắn chặt với Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trọng tâm:

Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư lâu dài, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời cũng phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát đồng bộ các quy định liên quan đến đầu tư kinh doanh và thị trường, kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, các địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn mà phải giúp cho nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ được triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.

Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, những dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì có thể thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.

Thứ tư, phải phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị từ điểm cầu Tòa nhà Quốc hội

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút đầu tư, giữ chân các dự án công nghệ cao, không thể chuyển từ gia công lắp ráp sang thiết kế nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao cần chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, của liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo được điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.

Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia và lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển khu công nghiệp may mặc, dàn trải, thiếu liên kết, thiếu nhà ở cho công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà phải gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ, làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. Cần xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và các nhà cung ứng. Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện khuyến khích để các nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước. Cần cơ cấu lại năng lực và nâng cao năng lực của cơ quan xúc tiến đầu tư cả ở Trung ương và các địa phương.

Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, các trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.

Điểm cầu tại trụ sở Thành ủy Hà Nội

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là một quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra các giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước; cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu”.

Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc khẳng định sẽ khẩn trương cụ thể hóa thành Kế hoạch hành động của Chính phủ; xác định rõ nhiệm vụ, rõ cơ quan chủ trì, rõ thời hạn, rõ sản phẩm đầu ra, rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương; lấy kết quả thực hiện làm thước đo, tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá bằng kết quả thực chất nhằm đưa Nghị quyết số 10-NQ/TW nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, hội nhập sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Phan Lâm - Linh Vũ - Nguyễn Thành

  LIÊN KẾT WEBSITE