Đảng bộ qua các thời kỳ

Đảng bộ Hà Nội, xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển phong trào đấu tranh, khởi nghĩa giành chính quyền 1926 – 1945
Ngày đăng 01/07/2018 09:04

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, giữa lúc phong trào yêu nước ở Việt Nam đang bế tắc về con đường cứu nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Từ nhiệt tình yêu nước nồng cháy, sự rèn luyện trong phong trào công nhân quốc tế và tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin qua luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc, vấn đề thuộc địa và thắng lợi cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã tìm ra chân lý: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác bằng con đường cách mạng vô sản

Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị đầu mối giao thông quan trọng, nơi đặt các cơ quan đầu não thống trị của bọn xâm lược nên luôn nhạy cảm trước sự thay đổi của mọi tình hình. Hà Nội, đã sớm tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại.

- Cuối năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động, trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho cách mạng Việt Nam. Tháng 6 - 1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên, Người lập ra tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên”. Những thanh niên tiên tiến ở trong nước và Hà Nội đã lần lượt lên đường sang dự lớp huấn luyện. Riêng ở Hà Nội số học sinh bãi khoá sang Quảng Châu học khá đông. Trong đó có các đồng chí: Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Sơn, Ngô Gia Tự, Trần Tích Chu, Trần Đăng Huyến, Phạm Văn Đồng, Trịnh Đình Cửu…sau khi kết thúc khóa học, nhiều người đã trở về nước hoạt động. Hà Nội từ đó trở thành nơi đưa đón anh em thanh niên từ trong nước sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện và từ Quảng Châu về nước hoạt động.

- Tháng 6-1927, tỉnh bộ Việt Nam cách mạng Thanh niên của Hà Nội được thành lập, gồm 3 người: Nguyễn Danh Đới, Mai Lập Đôn và Nguyễn Phong Sắc. Đồng chí Nguyễn Danh Đới làm Bí thư Kỳ bộ Bắc Kỳ, kiêm Bí thư tỉnh bộ Hà Nội. Địa bàn hoạt động của tỉnh bộ Hà Nội được mở rộng trên địa bàn các tỉnh  Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh.

- Ngày 28-9-1928, Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ đã họp Đại hội đại biểu. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Kỳ bộ mới gồm các đồng chí: Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung, Đỗ Ngọc Du, Trịnh Đình Cửu…Đồng chí Trần Văn Cung được phân công làm Bí thư, hai đồng chí Ngô Gia Tự và Nguyễn Đức Cảnh chịu trách nhiệm phụ trách vận động công nhân toàn kỳ.

Sau Đại hội Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ, đầu năm 1929, Tỉnh bộ thanh niên Hà Nội đã tiến hành tổ chức Đại hội để kiểm điểm hoạt động của Tỉnh bộ, thảo luận phương hướng hoạt động và kiện toàn lại bộ máy lãnh đạo. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc2, Ủy viên Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ được cử làm Bí thư Tỉnh bộ.

- Ngày 17-6-1929, tại số nhà 312, phố Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cộng sản mới được thành lập ở các tỉnh Bắc Kỳ đã họp, quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn, Điều lệ Đảng và lấy cờ đỏ búa liềm làm cờ của Đảng. Hội nghị cũng quyết định tổ chức Tổng công hội đỏ, phát triển Nông hội, Sinh hội, tổ chức Hội phụ nữ…

- Ở Hà Nội, ngay sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời, Thành bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Hà Nội cũng được thành lập, gồm 3 đồng chí: Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam. Đồng chí Đỗ Ngọc Du, Bí thư Xứ ủy Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Kỳ kiêm Bí thư Thành bộ Hà Nội. Tổ chức Đảng rất chặt chẽ, chỉ những hội viên thanh niên hoạt động tích cực nhất, hăng hái nhất mới được chọn lọc vào Đảng, trong đó có đồng chí: Nguyễn Ngọc Vũ, Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh), Nguyễn Thị Lựu, Nguyễn Thị Nghĩa, Trần Học Hải, Lều Thọ Nam, Nguyễn Văn Mẫn (tức Lịch)…Công tác vận động quần chúng của Thành Đảng bộ càng được đẩy mạnh.

- Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản và sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, ngày 3-2-1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), Hội nghị hợp nhất Đảng đã họp, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.

- Sau sự kiện vĩ đại đó, ngày 17-3-1930, tại nhà số 42 phố Hàng Thiếc, Ban Chấp hành lâm thời của Thành Đảng bộ Hà Nội được thành lập, gồm 3 đồng chí: Đỗ Ngọc Du (Bí thư), Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam. Cuối tháng 4-1930, đồng chí Đỗ Ngọc Du, Bí thư Thành ủy lâm thời, được Trung ương điều đi công tác nước ngoài. Tháng 6-1930, đồng chí Trần Văn Lan, Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp ở 177 phố Hàng Bông để tổ chức lại Thành ủy. Thành ủy Hà Nội chính thức thành lập do đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ làm Bí thư cùng 2 ủy viên là Lê Đình Tuyển và Đỗ Danh Cưu. Văn phòng Thành ủy do đồng chí Tạ Quang Sần phụ trách.

- Từ tháng 6 đến tháng 12/1930, Thành ủy 3 lần bị vỡ. Đồng chí Trần Văn Lan (tức Giáp), Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp phụ trách Hà Nội 3 lần phải kiện toàn lại Ban lãnh đạo. Ngày 6/12/1930, đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ (bí thư) bị bắt; đầu năm 1931, đồng chí Trần Quang Tặng (Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc kỳ), sau khi tổ chức lại Xứ ủy lâm thời Bắc kỳ đã tổ chức Thành ủy lâm thời Hà Nội gồm 3 đồng chí do đồng chí Phạm Văn Phong (tức Hoàng) làm bí thư, Ban lãnh đạo này đến tháng 4/1931, bị địch khủng bố và lại bị vỡ.

- Tháng 9/1931, tổ chức lại Thành ủy Hà Nội gồm 3 đồng chí do đồng chí Trần Quang Tặng bí thư Xứ ủy lâm thời trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Ban Thành ủy này giữ vững được đến đầu năm 1932 thì lại vỡ, tất cả cấp ủy đều bị bắt.

- Tháng 5-1930, Chi bộ đảng Đông Phù, Thanh Trì được thành lập gồm 6 đảng viên, do đồng chí Phạm Gia làm Bí thư. Chi bộ hoạt động theo sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Ngọc Phan (tức Phương). Đây là chi bộ đầu tiên của Đảng bộ Hà Đông trước đây, cũng là chi bộ ở nông thôn sớm nhất trong Đảng bộ Hà Nội ngày nay.

- Năm 1933, địa bàn Sơn Tây-Hà Đông, tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng đều bị vỡ do khủng bố. Tuy nhiên, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin một khi đi vào quần chúng đã trở thành sức mạnh, niềm tin không gì phá vỡ nổi. Trong những năm 1933 - 1935, ảnh hưởng của Đảng vẫn tiếp tục thấm sâu, lan rộng trong các huyện của Hà Đông, Sơn Tây. 

- Từ 27 đến 31-3-1935, Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội đã nêu ra 3 nhiệm vụ chủ yếu cho toàn Đảng trong thời gian trước mắt là: Củng cố phát triển đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chống chiến tranh đế quốc.

- Tháng 3/1937, Thành ủy Hà Nội được lập lại, đồng chí Lương Khánh Thiện, Thường vụ Xứ ủy trực tiếp làm bí thư Thành ủy.

- Cuối 1938, đồng chí Lương Khánh Thiện được cử làm Bí thư Xứ ủy, đồng chí Đinh Xuân Nhạ (tức Trần Quý Kiên), Thành ủy viên thay đồng chí Lương Khánh Thiện làm bí thư Thành ủy.

- Ở Sơn Tây, chi bộ dự bị Đa Phúc do đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí thư. Đầu năm 1938, đồng chí Trần Quí Kiên, Thường vụ Xứ ủy, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã trực tiếp về Đa Phúc công nhận chi bộ dự bị Đa Phúc là một chi bộ chính thức của Đảng. Đồng chí giao nhiệm vụ cho chi bộ lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh Sơn Tây và hoạt động theo sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội.

- Cuối năm 1938, đồng chí Hoàng Lương Hữu, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, đã về trực tiếp chủ trì hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Hà Đông họp tại làng Vạn Phúc. Thay mặt Xứ ủy, đồng chí chỉ định Ban Tỉnh ủy lâm thời gồm 5 ủy viên1 do đồng chí Dương Nhật Đại làm Bí thư.

- Cuối năm 1939 đầu năm 1940, địch liên tục khủng bố, Trung ương và Xứ ủy đã kịp thời điều động cán bộ phụ trách Hà Nội. Tháng 3-1940, đồng chí Nguyễn Mạnh Đạt bị địch bắt, Xứ ủy điều động đồng chí Nguyễn Văn Ngọc tiếp đó là Nguyễn Văn Bi (Bi, Quốc vàng) về làm Bí thư, nhưng cũng không lập lại được Thành ủy. Tháng 4 năm 1940, Xứ uỷ điều động đồng chí Dương Nhật Đại, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông ra làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội được một thời gian ngắn, đồng chí bị lộ phải chuyển công tác; đồng chí Lưu Đức Hiểu (tức Lưu Quyên) Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông ra thay, đến tháng 1-1941, đồng chí Lưu Đức Hiểu bị địch bắt. Đầu năm 1941, do Thành ủy Hà Nội và tỉnh ủy Hà Đông, Sơn Tây đều bị tổn thất nặng nên Xứ ủy thành lập Ban cán sự liên tỉnh A gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây do đồng chí Phan Trọng Tuệ làm Bí thư.

- Ngày 8-2-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Từ ngày 10 đến 19-5-1941, Người chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VIII, họp tại Pắc Bó (Cao Bằng).

- Ở Hà Nội, mặc dù kẻ thù điên cuồng khủng bố, bắt bớ cán bộ chủ chốt, nhưng được sự quan tâm đặc biệt của Xứ uỷ, Ban cán sự Đảng Hà Nội thường xuyên được đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ uỷ trực tiếp chỉ đạo, tái lập để giữ vững mối liên hệ giữa Đảng bộ và cơ sở. Tháng 8-19411 đến đầu năm 1943, Ban cán sự Đảng Hà Nội được kiện toàn nhiều lần, đến tháng 4-1943 đồng chí Lê Quang Đạo được Xứ uỷ điều động về làm Bí thư Đảng bộ Hà Nội.

- Đầu năm 1943 đến ngày 9-3-1945, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển. Trước tình hình đó, từ ngày 25 đến 28-2-1943, Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (Đông Anh) ra nghị quyết đề cập đến hai chủ trương lớn là mở rộng Mặt trận Việt Minh và đẩy mạnh mọi mặt công tác để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

- Tháng 5-1943, đồng chí Văn Tiến Dũng được Xứ uỷ chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông thay đồng chí Nguyễn Thị Minh Châu chuyển công tác, Ban tỉnh uỷ họp tại Yên Trường (Chương Mỹ) đề ra chủ trương khôi phục lại cơ sở và mở rộng Mặt trận Việt Minh, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng, do đó mỗi đồng chí tỉnh uỷ viên phải bám sát cơ sở để chỉ đạo một vùng.

- 8 giờ 25 phút tối 9-3-1945, mâu thuẫn phát xít Nhật-Pháp bùng nổ thành cuộc đảo chính của Nhật nhằm “truất quyền Pháp, tước khí giới của Pháp, chiếm hẳn lấy Đông Dương làm thuộc địa riêng của chủ nghĩa đế quốc Nhật”

- Ngày 12-3-1945, tại làng Đình Bảng, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh. Hội nghị đã quyết định những vấn đề hết sức trọng đại chuẩn bị cuộc khởi nghĩa sắp tới, thể hiện trong chỉ thị: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngay sau ngày 9-3-1945, Xứ uỷ đã bổ sung nhiều cán bộ của Đảng vừa thoát khỏi nhà tù Hỏa Lò, Sơn La cho Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây.

- Ngày 15-8, Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh không điều kiện.

- Đêm 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã hạ lệnh tổng khởi nghĩa.

- Ngày 14-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định khẩn trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam.

- Tối ngày 15-8-1945, theo Chỉ thị của Xứ uỷ, Thành uỷ triệu tập hội nghị bất thường gồm các cán bộ và đội trưởng các đội công nhân xung phong, thanh niên xung phong ở chùa Hà (nay thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy), để rà soát lực lượng và bàn những công việc cấp bách cần làm nhằm chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Sáng ngày 16-8-1945, tại nhà số 101, phố Găm-bet-ta (Gambetta), nay là phố Trần Hưng Đạo, đồng chí Nguyễn Khang, Thường vụ Xứ uỷ triệu tập cuộc họp với Thành uỷ để phổ biến Nghị quyết của Xứ uỷ về thành lập Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa), gồm 5 đồng chí: Nguyễn Khang, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ; Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy) cán bộ Ban công vận Xứ uỷ; Nguyễn Quyết, Bí thư Thành uỷ; Nguyễn Duy Thân, Thành uỷ viên và Lê Trọng Nghĩa, cán bộ Xứ uỷ. Đồng chí Trần Đình Long được cử làm cố vấn cho Ủy ban.

- Tối ngày 17-8-1945, tại nhà bà Hai Nhã, thôn Dịch Vọng Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm (nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy), Thành uỷ và Ủy ban khởi nghĩa đã họp Hội nghị mở rộng, có đông đủ đại biểu các đoàn thể Cứu quốc, Đội tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, các đội Tự vệ chiến đấu để bàn kế hoạch khởi nghĩa. Thời cơ đã chín muồi, Hội nghị mở rộng của Thành uỷ, Ủy ban quân sự cách mạng đã quyết định những vấn đề cơ bản của cuộc khởi nghĩa.

- Sáng sớm ngày 18-8-1945, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội cử cán bộ vào Hà Đông xin ý kiến Thường vụ Xứ uỷ về kế hoạch khởi nghĩa của Hà Nội. Thường vụ Xứ uỷ đã chuẩn y toàn bộ kế hoạch, đồng thời quyết định cho các phủ huyện thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Hà Đông, như: Gia Lâm, Thanh Trì, Phú Xuyên, Thường Tín, Hoài Đức, Đan Phượng gấp rút tiến hành khởi nghĩa, tích cực chuẩn bị giành chính quyền ở hai tỉnh lỵ, vừa huy động thêm quần chúng trợ lực cho cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội.

- Ngày 19-8-1945, từ sáng sớm cả Hà Nội đã đỏ rực cờ cách mạng. Theo kế hoạch, hàng vạn nông dân và dân nghèo được tập hợp thành đội ngũ, từ Hạ Yên Quyết, Giáp Nhất, Trung Kính, các làng Mọc, Yên Lãng, Thịnh Quang, kéo ra Ngã Tư Sở, tiến lên chiếm trụ sở Đại lí Hoàn Long, trước khi vào nội thành. Phía Cầu Giấy-Dịch Vọng, tự vệ và công nhân xung phong do đồng chí Vi Dân chỉ huy theo đường từ Dịch Vọng-Kim Mã tiến vào nội thành để chiếm Phủ Khâm Sai. Hàng vạn nông dân, thợ thủ công các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Đan Phượng, Mê Linh, Gia Lâm, Đông Anh và các tầng lớp nhân dân ở thị xã Hà Đông giương cao băng, cờ, khẩu hiệu và các loại vũ khí thô sơ…từ các ngả rầm rập tiến vào nội thành, phối hợp với các tầng lớp nhân dân Thủ đô chiếm các vị trí trọng yếu trong thành phố.

- Đến tối 19-8-1945, các cơ quan quan trọng của chính quyền bù nhìn đã về tay cách mạng. Việt Minh hoàn toàn làm chủ thành phố. Hà Nội bừng sáng trong mầu cờ đỏ. Cuộc khởi nghĩa ở trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa của cả nước đã hoàn toàn thắng lợi.

- Ở Hà Đông, sau 11 ngày (từ ngày 16 đến 27-8-1945) đấu tranh sôi nổi và quyết liệt, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện, thị xã đã giành thắng lợi hoàn toàn.

- Ở Sơn Tây, từ ngày 17 đến ngày 25-8-1945, Đảng bộ Sơn Tây đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã và các phủ huyện. Đầu tháng 9-1945 cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi trên phạm vi toàn tỉnh. Hệ thống chính quyền các cấp được thành lập.

- Ngày 22-8-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại số 48 Hàng Ngang đã quyết định: Chỉ thị cho các nơi tiếp tục giành chính quyền theo phương thức của Hà Nội, phải làm nhanh không thể chậm được; mở rộng ngay Mặt trận dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời để tiếp thu một số nhân sĩ mới; tổ chức một cuộc mít tinh để nói vắn tắt chính sách của Chính phủ lâm thời…

- Ngày 23-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu về đến Phú Thượng (nay thuộc quận Tây Hồ) ở tại nhà ông Công Văn Kha, sau đó ngày 25-8-1945, Người vào nội thành ở 48 Hàng Ngang, nhà của ông bà Trịnh Văn Bô. Tại đây Người đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập.

- Ngày 2-9-1945, Ủy ban dân tộc giải phóng chính thức đổi thành Chính phủ lâm thời ra mắt đồng bào. Nhân dân Hà Nội-Hà Đông-Sơn Tây và các tỉnh phụ cận dồn tụ về quảng trường Ba Đình dự Lễ độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân toàn thế giới Bản Tuyên ngôn Độc lập.

- Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 21-8-1945, Thường vụ Xứ ủy họp quyết định điều động cán bộ, kiện toàn cơ quan Đảng và tổ chức bộ máy chính quyền ở Hà Nội. Ngày 25-8-1945, Xứ ủy chỉ định đồng chí Trần Quang Huy (Nguyễn Huy Khôi) làm Bí thư và tăng cường cho Thành ủy một số cán bộ. Nhưng một thời gian ngắn sau đó, đồng chí Trần Quang Huy được Xứ ủy giao công tác đặc biệt. Đồng chí Trần Danh Tuyên được cử làm Bí thư. Đến tháng 10-1945, Xứ ủy lại điều động đồng chí Trần Danh Tuyên đi công tác khác, đồng chí Hoàng Tùng được cử về làm Bí thư. Tháng 12-1945, đồng chí Trần Quang Huy trở lại làm Bí thư Thành ủy.

- Đến 30-8-1945, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chính thức được thành lập. Bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm Chủ tịch; đồng chí Khuất Duy Tiến làm Phó Chủ tịch.

- Ở Hà Đông, tháng 10-1945 đồng chí Phạm Văn Kính, Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông chuyển công tác, đồng chí Bùi Quang Tạo được Trung ương cử về làm Bí thư Tỉnh ủy. Đến cuối năm 1945 đồng chí Bùi Quang Tạo chuyển lên tỉnh Sơn Tây là Bí thư, Trung ương cử đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông.

- Ở Sơn Tây, cuối năm 1945 đồng chí Lê Quang Hòa, Bí thư tỉnh ủy chuyển công tác, Trung ương điều đồng chí Bùi Quang Tạo về làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây.

 

  LIÊN KẾT WEBSITE