Đấu tranh chống quan điểm sai trái phòng, chống "Tự diễn biến, tự chuyển hóa"

Vạch trần âm mưu hạ thấp, coi tự phê bình và phê bình là “vạch lá tìm sâu”
Ngày đăng 02/10/2019 23:46

Chuẩn bị đến Đại hội XIII của Đảng, trước thực trạng một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp bị kỷ luật, bị pháp luật trừng trị vì sai phạm trong lãnh đạo, quản lý, trên một số diễn đàn mạng xã hội, một số phần tử cho rằng, phê bình và tự phê bình trong Đảng lỗi thời, lạc hậu, chỉ là một biện pháp để “vạch lá tìm sâu”, nhằm loại bỏ phe cánh. Đây là quan điểm hết sức nguy hiểm, vì mục tiêu cuối cùng là làm giảm uy tín lãnh đạo của Đảng, cổ xúy hiện tượng đấu tranh dân chủ, đòi đa nguyên đa đảng và tam quyền phân lập.

Họ chỉ ra nguyên nhân, khẳng định tự phê bình và phê bình ở trong Đảng hiện nay rất yếu kém, lỗi thời, lạc hậu. Một số cán bộ, đảng viên thấy sự thật ẩn giấu trong nội bộ, nhưng không dám phê bình, phát biểu công khai vì phải dựa dẫm vào Đảng để tồn tại. Còn những người được lọt vào diện quy hoạch, được cơ cấu thì dù có thấy bất cập cũng tìm cách lờ đi và che đậy. Những đảng viên dũng cảm, dám nói lên sự thật thì lập tức bị quy kết vào tội "tự diễn biến", bị thi hành kỷ luật, một số buộc phải từ bỏ Đảng để được làm người trung thực. Có thể khẳng định, những gì họ đưa ra là chưa hiểu tường tận các nội dung trong vấn đề công tác xây dựng Đảng cách mạng, đặc biệt là nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Trong vấn đề lý luận về xây dựng Đảng cách mạng, V.I. Lênin khẳng định: “Đảng cần được xây dựng trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Hoạt động của Đảng phải dựa trên cơ sở một điều lệ thống nhất, lãnh đạo phải từ trung tâm là các Đại hội Đảng. Hiện nay, chúng ta đã trở thành một Đảng có tổ chức, điều đó có nghĩa là chúng ta đã tạo ra một quyền lực, biến uy tín về tư tưởng thành uy tín về quyền lực, khiến cho cấp dưới phải phục tùng cấp trên của Đảng”(1).

Do vậy, V.I. Lênin nhấn mạnh vai trò của tự phê bình và phê bình trong công tác xây dựng Đảng cách mạng: “Đảng không được giấu giếm những sự thật đối với quần chúng, không được che giấu khuyết điểm sai lầm, phải mạnh dạn “tiến hành công tác tự phê bình của mình và tiếp tục bóc trần một cách không khoan nhượng những thiếu sót của bản thân mình”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cách mạng Việt Nam, đất nước có nền nông nghiệp lạc hậu và phong trào công nhân chưa phát triển để xây dựng Đảng cách mạng kiểu mới. Người cho rằng, cùng với tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc phát triển Đảng. Thế nên, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình cũng phát triển rất sớm, phù hợp thực tế trình độ nhận thức người Việt Nam, không trái với lý luận, yêu cầu xây dựng và phát triển Đảng cách mạng mà Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra.

Từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập và coi tự phê bình và phê bình là thuốc chữa bệnh, là vũ khí trừ kẻ địch bên trong. Bác viết: “Thang thuốc hay nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình”(3); “Chúng ta phải ráo riết tự phê bình và phê bình để giúp nhau chữa hết những bệnh ấy. Có thế thì Đảng mới chóng phát triển”(4). Động thái “ráo riết” và “giúp nhau” đủ nói lên cái cần thiết quyết liệt với mục đích xây dựng trên tình đồng chí, đồng nghiệp trong tự phê và phê bình.

Mục đích của tự phê bình và phê bình được Bác chỉ rõ là: Với tổ chức, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”(5), “để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”(6). Nếu đoàn kết làm nên sức mạnh của Đảng thì tự phê bình và phê bình có thể coi là một cội nguồn sức mạnh của Đảng. Với các đảng viên, mục đích của tự phê bình và phê bình “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”(7), “là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm”(8).

Trong bản Di chúc, Bác căn dặn Đảng ta phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”, Bác đã nhấn mạnh đó là tự phê bình và phê bình dựa trên “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(9). Đây là một quan điểm riêng có của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, hàm chứa một nội dung tư tưởng rất sâu xa, mà mỗi đảng viên cần phải vươn tới.

Phê bình, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phải xuất phát từ tình thương yêu đồng chí hết mực. Nét nhân văn sâu sắc trong truyền thống của dân tộc được nâng lên một chất mới và trở thành tinh thần cơ bản của tự phê bình và phê bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác chỉ rõ rằng, thương yêu không phải nuông chiều, thả mặc, mà là giúp cán bộ học tập thêm, chăm sóc, động viên khi họ gặp khó khăn, giúp họ tự kiểm thảo và sửa chữa khuyết điểm, vun đắp chí khí của họ để họ đạt được phương châm sống “bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”.

Phê bình phải nhằm đúng nội dung, nhắm vào công việc. Theo Bác, đó là “phê bình” việc làm chứ không phải phê bình người”(10). Bác chỉ  rõ: “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng”(11).

Để phê bình có hiệu quả, theo Người, phải phê bình toàn diện, đa chiều; do đó, trong bài "Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng", Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Người cũng căn dặn: Phải kết hợp giữa phê bình và tự phê bình; phải thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đúng nguyên tắc và nêu gương trước cấp dưới, trước quần chúng.

Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên Hải Phòng, Người ân cần nói: “Phê bình phải dân chủ, nghĩa là Bác phê bình các cô, các chú, trái lại các cô, các chú có thể phê bình Bác, có cái hay phải học, cái khuyết điểm thì phê bình. Các cô, các chú yêu Bác, muốn Bác tiến bộ thì phải phê bình”. Phong cách phê bình của Người thể hiện sự gần gũi, yêu thương nhau giữa các thành viên trong một đại gia đình lớn; vừa mềm dẻo, vừa cương quyết để đạt được mục đích của tự phê bình và phê bình mà không “cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc” dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí phản tác dụng.

Trong thực tế, chi bộ, tổ chức cơ sở đảng nào làm tốt công tác tự phê bình và phê bình thì chi bộ, tổ chức Đảng nơi đó phát huy hiệu quả, nâng cao năng lực sức chiến đâu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

Hiện nay, Đảng ta vẫn kiên trì thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Gần đây nhất, trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta yêu cầu: Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chúng ta mạnh dạn nhận thấy, trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, ở các tổ chức cơ sở đảng hiện nay còn bộc lộ một số thiếu sót. Đó là tình trạng tự phê bình thì mạnh dạn nhưng phê bình cấp trên thì e dè, nể nang. Đó là hiện tượng lợi dụng phê bình để hạ thấp uy tín người khác.

Cạnh đó, không ít đảng viên chưa nêu cao tính xây dựng, tính chiến đấu, thực hiện phương châm “thứ nhất ngồi lỳ, thứ nhì đồng ý” hay “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án” hoặc “gió chiều nào theo chiều ấy” để tạo cảm giác “an toàn” cho mình khiến một số cán bộ, đảng viên ngại phát biểu biểu ý kiến trong sinh hoạt Đảng. Nhiều người được phê bình lại có biểu hiện không thừa nhận khuyết điểm, thiếu cầu thị, thậm chí tiếp nhận các ý kiến phê bình của người khác một cách cực đoan; tìm cách để ý, trù dập cấp dưới khi có biểu hiện phê bình cấp trên. Tình trạng thực hiện tự phê bình và phê bình không tốt đã khiến cho không ít tổ chức đảng mất đoàn kết nội bộ hoặc đoàn kết xuôi chiều.

Nguyên nhân thực hiện tự phê bình và phê bình trong các tổ chức cơ sở đảng, trong các chi bộ không tốt không phải là do nguyên tắc tự phê bình và phê bình lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp mà chủ yếu xuất phát từ việc tổ chức đảng, chi bộ chưa có biện pháp làm cho tự phê bình và phê bình đi đúng hướng. Do tâm lý ngại “động chạm”, nên nhiều người đã lấy “dĩ hòa vi quý” làm phương châm. Vì mục đích vụ lợi, không ít cán bộ, đảng viên có nhận thức chính trị chưa tới nơi. Trong thực tế cũng có hiện tượng phê bình không khách quan, không kịp thời nhắc nhở đồng chí, đồng nghiệp mà “tích lũy khuyết điểm” của người khác để kết tội.

Đây là nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ, làm rối loạn cơ quan, đơn vị... Tuy nhiên, những hiện tượng này chỉ là cá biệt, chiếm tỷ lệ nhỏ trong toàn Đảng và có thể nói là không đáng kể. Do vậy, tư tưởng phủ nhận tự phê bình và phê bình trong Đảng, cho rằng tự phê bình và phê bình là lỗi thời, lạc hậu, là biện pháp để “vạch lá tìm sâu”, loại bỏ phe cánh của các đối tượng phản động chỉ là trò “tung hỏa mù”, hòng làm phân tâm cán bộ, đảng viên, chia rẽ và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng. Có thể khẳng định, đây là trò phản tuyên truyền, là đòn chiến tranh tâm lý của đối tượng chống đối, phản động không thể xem nhẹ.

Để thực hiện tự phê bình và phê bình hiệu quả thì các tổ chức cơ sở đảng cần khắc phục tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý, đoàn kết xuôi chiều, bị tình cảm cá nhân chi phối; đồng thời xử lý nghiêm khắc những biểu hiện lợi dụng phê bình để đấu đá, làm mất uy tín, ảnh hưởng đến đoàn kết trong tổ chức đảng, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng kích động, chia rẽ.

Mạnh Thắng

(1) V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 428 – 42.

(2) V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 220.

(3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, tập 5, trang 241.

(4). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.261-262.

(5). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.267.

(6). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.239.

(7). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, NXB CTQG, H, 1996, tr.239.

(8). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.239.

(9). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.267.

(10). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, NXB CTQG, H, 1996, tr.491.

(11). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr.232.

  LIÊN KẾT WEBSITE