Ngày 21-5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp (Nghị quyết số 27-NQ/TW). Báo Hànộimới trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

Toàn cảnh Hội nghị Trung ương 7. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY BAN CHẤP HÀNH TRUNG
ƯƠNG KHÓA XII
về cải cách chính
sách tiền lương đối với cán bộ, công chức,
viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong
doanh nghiệp
I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Chính sách tiền lương là một bộ phận
đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh
tế-xã hội, liên quan trực tiếp đến các cân
đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người
hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị
tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng,
chống tham nhũng, lãng phí.
Nước ta
đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền
lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm
2003. Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khóa IX về Đề án
cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm
xã hội và trợ cấp ưu đãi người có
công giai đoạn 2003-2007 đã từng bước được bổ sung,
hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng
các khóa X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6
khóa X, đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW,
ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số
63-KL/TW, ngày 27-5-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa
XI.
Nhờ đó, tiền lương trong khu vực công của
cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ
trang đã từng bước được cải thiện, nhất là ở những
vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, góp phần
nâng cao đời sống người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp,
chính sách tiền lương từng bước được hoàn thiện
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước.
2. Bên cạnh kết quả đạt được, chính
sách tiền lương vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Chính sách tiền lương trong khu vực công
còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp
với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ
lãnh đạo; còn mang nặng tính bình
quân, không bảo đảm được cuộc sống, chưa phát huy
được nhân tài, chưa tạo được động lực để nâng cao
chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao động. Quy
định mức lương cơ sở nhân với hệ số không thể hiện
rõ giá trị thực của tiền lương. Có quá
nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương do nhiều
cơ quan, nhiều cấp quyết định bằng các văn bản quy định
khác nhau làm phát sinh những bất hợp lý,
không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong
hoạt động công vụ. Chưa phát huy được quyền, trách
nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá
và trả lương, thưởng, gắn với năng suất lao động, chất lượng,
hiệu quả công tác của cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động.
3. Những hạn chế, bất cập
nêu trên có nguyên nhân khách
quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng,
năng suất lao động, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp;
tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước
còn hạn chế... nhưng nguyên nhân chủ quan là
chủ yếu. Việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về
chính sách tiền lương còn chậm, chưa có
nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính
sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ còn
chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Số đơn vị sự
nghiệp công lập tăng nhanh, số người hưởng lương, phụ cấp từ
ngân sách nhà nước còn quá lớn. Việc
xác định vị trí việc làm còn chậm, chưa
thực sự là cơ sở để xác định biên chế, tuyển dụng,
đánh giá cán bộ, công chức, viên chức
và trả lương. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát,
hệ thống thông tin thị trường lao động, tiền lương, năng lực
thương lượng về tiền lương của người lao động trong ký kết hợp
đồng lao động và vai trò của tổ chức công
đoàn trong các thỏa ước lao động tập thể còn hạn
chế. Công tác hướng dẫn, tuyên truyền về
chính sách tiền lương chưa tốt, dẫn đến việc xây
dựng và thực hiện một số chính sách còn
chưa tạo được đồng thuận cao.
II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH
1. Quan điểm chỉ đạo
1.1. Chính sách tiền lương là một
chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính
sách kinh tế-xã hội. Tiền lương phải thực sự là
nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và
gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu
tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng
cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người
lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính
trị-xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng
trưởng và phát triển bền vững.
1.2. Cải
cách chính sách tiền lương phải bảo đảm
tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát
huy những ưu điểm, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập
của chính sách tiền lương hiện hành; tuân
thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật
khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động
là cơ sở để tăng lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế; có lộ trình phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế-xã hội và nguồn lực của đất
nước.
1.3. Trong khu vực công, Nhà nước trả
lương cho cán bộ, công chức, viên chức và
lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh
và chức vụ lãnh đạo, phù hợp với nguồn lực của
Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp dịch vụ công, bảo
đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao
động; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng
theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu
quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp,
góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
1.4.
Trong khu vực doanh nghiệp, tiền lương là giá cả sức lao
động, hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người
lao động và người sử dụng lao động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước quy
định tiền lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất để bảo vệ
người lao động yếu thế, đồng thời là một trong những căn cứ để
thỏa thuận tiền lương và điều tiết thị trường lao động.
Phân phối tiền lương dựa trên kết quả lao động và
hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm mối quan hệ lao động hài
hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
1.5. Cải cách chính sách tiền lương là
yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng,
đòi hỏi quyết tâm chính trị cao trong xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy cải cách hành
chính; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản
biên chế; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý,
nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các
đơn vị sự nghiệp công lập.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng
hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách
khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực
tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ
động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài
hòa, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng
sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn
nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính
trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng,
chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người
hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội.
2.2. Mục
tiêu cụ thể
(1) Từ năm 2018 đến năm 2020
a) Đối với khu vực công
- Tiếp tục điều chỉnh tăng
mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp
hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp
với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại
phụ cấp mới theo nghề.
- Hoàn thành việc
xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo
nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với
lộ trình cải cách hành chính, tinh giản
biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị
quyết của Trung ương.
b) Đối với khu vực doanh
nghiệp
- Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu
vùng phù hợp tình hình phát triển
kinh tế - xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm
2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động
và gia đình họ.
- Thực hiện thí điểm quản
lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước
theo các nội dung của Đề án cải cách chính
sách tiền lương được phê duyệt.
(2) Từ năm 2021 đến
năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
a) Đối với
khu vực công
- Từ năm 2021, áp dụng chế độ
tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức,
viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống
chính trị.
- Năm 2021, tiền lương thấp nhất của
cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp
nhất bình quân các vùng của khu vực doanh
nghiệp.
- Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù
hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh
tế và khả năng của ngân sách nhà
nước.
- Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán
bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất
bình quân các vùng của khu vực doanh
nghiệp.
- Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của
cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức
lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh
nghiệp.
b) Đối với khu vực doanh nghiệp
- Từ năm
2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu
vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc
gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách
tiền lương trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa người sử
dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao
động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào
chính sách tiền lương của doanh nghiệp.
- Thực
hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà
nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và
tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp vào năm 2030.
3. Nội dung cải cách
3.1. Đối với cán bộ, công chức, viên chức
và lực lượng vũ trang (khu vực công)
a) Thiết kế cơ
cấu tiền lương mới gồm: Lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương)
và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương).
Bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền
lương của năm, không bao gồm phụ cấp).
b) Xây
dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc
làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ
thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương cũ sang lương mới,
bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng, gồm:
-
Xây dựng 1 bảng lương chức vụ áp dụng đối với cán
bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo (bầu
cử và bổ nhiệm) trong hệ thống chính trị từ Trung ương
đến cấp xã theo nguyên tắc:
(1) Mức lương
chức vụ phải thể hiện thứ bậc trong hệ thống chính trị; giữ
chức vụ lãnh đạo nào thì hưởng lương theo chức vụ
đó, nếu một người giữ nhiều chức vụ thì hưởng một mức
lương chức vụ cao nhất; giữ chức vụ lãnh đạo tương đương nhau
thì hưởng mức lương chức vụ như nhau; mức lương chức vụ của
người lãnh đạo cấp trên phải cao hơn mức lương chức vụ
của người lãnh đạo cấp dưới;
(2) Quy định một mức
lương chức vụ cho mỗi loại chức vụ tương đương; không phân
loại bộ, ngành, ban, uỷ ban và tương đương ở Trung ương
khi xây dựng bảng lương chức vụ ở Trung ương; không
phân biệt mức lương chức vụ khác nhau đối với cùng
chức danh lãnh đạo theo phân loại đơn vị hành
chính ở địa phương mà thực hiện bằng chế độ phụ cấp.
Việc phân loại chức vụ lãnh đạo tương đương trong hệ
thống chính trị để thiết kế bảng lương chức vụ do Bộ
Chính trị quyết định sau khi đã báo cáo
Ban Chấp hành Trung ương.
- Xây dựng 1 bảng
lương chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch công chức
và chức danh nghề nghiệp viên chức áp dụng chung
đối với công chức, viên chức không giữ chức danh
lãnh đạo; mỗi ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp
viên chức có nhiều bậc lương theo nguyên tắc:
Cùng mức độ phức tạp công việc thì mức lương như
nhau; điều kiện lao động cao hơn bình thường và ưu
đãi nghề thì thực hiện bằng chế độ phụ cấp theo nghề;
sắp xếp lại nhóm ngạch và số bậc trong các ngạch
công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, khuyến
khích công chức, viên chức nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Việc bổ nhiệm
vào ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp viên
chức phải gắn với vị trí việc làm và cơ cấu ngạch
công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức do cơ quan, tổ
chức, đơn vị quản lý công chức, viên chức thực
hiện.
- Xây dựng 3 bảng lương đối với lực lượng vũ
trang, gồm: 1 bảng lương sỹ quan quân đội, sỹ quan, hạ sỹ quan
nghiệp vụ công an (theo chức vụ, chức danh và cấp bậc
quân hàm hoặc cấp hàm); 1 bảng lương quân
nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật
công an và 1 bảng lương công nhân quốc
phòng, công nhân công an (trong đó giữ
tương quan tiền lương của lực lượng vũ trang so với công chức
hành chính như hiện nay).
c) Xác định
các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới
-
Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay,
xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương
mới.
- Thực hiện thống nhất chế độ hợp đồng lao động theo
quy định của Bộ luật Lao động (hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ) đối với
những người làm công việc thừa hành, phục vụ
(yêu cầu trình độ đào tạo dưới trung cấp),
không áp dụng bảng lương công chức, viên chức
đối với các đối tượng này.
- Xác định mức
tiền lương thấp nhất của công chức, viên chức trong khu
vực công là mức tiền lương của người làm
công việc yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp
(bậc 1) không thấp hơn mức tiền lương thấp nhất của lao động qua
đào tạo trong khu vực doanh nghiệp.
- Mở rộng quan hệ
tiền lương làm căn cứ để xác định mức tiền lương cụ thể
trong hệ thống bảng lương, từng bước tiệm cận với quan hệ tiền lương
của khu vực doanh nghiệp phù hợp với nguồn lực của Nhà
nước.
- Hoàn thiện chế độ nâng bậc lương thường
xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với
cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ
trang phù hợp với quy định của bảng lương mới.
d) Sắp xếp
lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ
cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương
- Tiếp tục áp dụng
phụ cấp kiêm nhiệm; phụ cấp thâm niên vượt khung;
phụ cấp khu vực; phụ cấp trách nhiệm công việc; phụ cấp
lưu động; phụ cấp phục vụ an ninh, quốc phòng và phụ cấp
đặc thù đối với lực lượng vũ trang (quân đội, công
an, cơ yếu).
- Gộp phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp
trách nhiệm theo nghề và phụ cấp độc hại, nguy hiểm (gọi
chung là phụ cấp theo nghề) áp dụng đối với công
chức, viên chức của những nghề, công việc có yếu tố
điều kiện lao động cao hơn bình thường và có
chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà
nước (giáo dục và đào tạo, y tế, toà
án, kiểm sát, thi hành án dân sự,
thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, hải quan, kiểm lâm, quản
lý thị trường,...). Gộp phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu
hút và trợ cấp công tác lâu năm ở
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn thành phụ cấp công tác ở
vùng đặc biệt khó khăn.
- Bãi bỏ phụ cấp
thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu
để bảo đảm tương quan tiền lương với cán bộ, công chức);
phụ cấp chức vụ lãnh đạo (do các chức danh lãnh
đạo trong hệ thống chính trị thực hiện xếp lương chức vụ); phụ
cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị -
xã hội; phụ cấp công vụ (do đã đưa vào
trong mức lương cơ bản); phụ cấp độc hại, nguy hiểm (do đã đưa
điều kiện lao động có yếu tố độc hại, nguy hiểm vào phụ
cấp theo nghề).
- Quy định mới chế độ phụ cấp theo phân
loại đơn vị hành chính đối với cấp xã, cấp huyện
và cấp tỉnh.
- Thực hiện nhất quán khoán
quỹ phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ
dân phố trên tỉ lệ chi thường xuyên của Ủy ban
nhân dân cấp xã; đồng thời, quy định số lượng tối
đa những người hoạt động không chuyên trách theo
từng loại hình cấp xã, thôn, tổ dân
phố.
Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân
dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân
cùng cấp quy định cụ thể chức danh được hưởng phụ cấp theo
hướng một chức danh có thể đảm nhiệm nhiều công việc
nhưng phải bảo đảm chất lượng, hiệu quả công việc được
giao.
đ) Về cơ chế quản lý tiền lương và thu
nhập
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng quỹ
tiền lương và kinh phí chi thường xuyên được giao
hằng năm để thuê chuyên gia, nhà khoa học, người
có tài năng đặc biệt thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ
chức, đơn vị và quyết định mức chi trả thu nhập tương xứng với
nhiệm vụ được giao.
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
xây dựng quy chế để thưởng định kỳ cho các đối tượng
thuộc quyền quản lý, gắn với kết quả đánh giá,
xếp loại mức độ hoàn thành công việc của từng
người.
- Mở rộng áp dụng cơ chế thí điểm đối với
một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tự
cân đối ngân sách và bảo đảm đủ nguồn thực
hiện cải cách tiền lương, các chính sách
an sinh xã hội được chi thu nhập bình quân tăng
thêm không quá 0,8 lần quỹ lương cơ bản của
cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản
lý.
- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi
thường xuyên và chi đầu tư, hoặc tự bảo đảm chi thường
xuyên và các quỹ tài chính
nhà nước ngoài ngân sách nhà nước
được thực hiện cơ chế tự chủ tiền lương theo kết quả hoạt động như
doanh nghiệp.
- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một
phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập
do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi
thường xuyên thì áp dụng chế độ tiền lương như
công chức. Tiền lương thực trả gắn với vị trí việc
làm, chức danh nghề nghiệp viên chức do người đứng đầu
đơn vị sự nghiệp công lập quyết định trên cơ sở nguồn thu
(từ ngân sách nhà nước cấp và từ nguồn thu
của đơn vị), năng suất lao động, chất lượng công việc và
hiệu quả công tác theo quy chế trả lương của đơn vị,
không thấp hơn chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
3.2. Đối với người lao động trong doanh nghiệp
a) Về mức lương tối thiểu vùng
- Tiếp tục
hoàn thiện chính sách về tiền lương tối thiểu
vùng theo tháng; bổ sung quy định mức lương tối thiểu
vùng theo giờ nhằm nâng cao độ bao phủ của tiền lương tối
thiểu và đáp ứng tính linh hoạt của thị trường
lao động.
- Điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng bảo
đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình
người hưởng lương, đặt trong mối quan hệ với các yếu tố của thị
trường lao động và phát triển kinh tế-xã hội
(cung-cầu lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá
tiêu dùng, năng suất lao động, việc làm, thất
nghiệp, khả năng chi trả của doanh nghiệp...).
- Kiện
toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Hội đồng Tiền
lương quốc gia; bổ sung các chuyên gia độc lập tham gia
Hội đồng.
b) Về cơ chế quản lý tiền lương và
thu nhập
- Các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp
100% vốn nhà nước) được tự quyết định chính sách
tiền lương (trong đó có thang, bảng lương, định mức lao
động) và trả lương không thấp hơn mức lương tối thiểu do
Nhà nước công bố và trên cơ sở thỏa ước lao
động tập thể phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động,
khả năng của doanh nghiệp và công khai tại nơi làm
việc.
- Nhà nước công bố mức lương tối thiểu
vùng theo tháng và theo giờ, tiền lương
bình quân trên thị trường đối với các
ngành nghề và hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường
lao động, không can thiệp trực tiếp vào chính
sách tiền lương của doanh nghiệp. Doanh nghiệp và người
lao động thương lượng, thỏa thuận tiền lương, ký hợp đồng lao
động và trả lương gắn với năng suất và kết quả lao động.
Doanh nghiệp và tổ chức đại diện người lao động thương lượng,
thỏa thuận về tiền lương, tiền thưởng, các chế độ khuyến
khích khác trong thỏa ước lao động tập thể hoặc trong
quy chế của doanh nghiệp. Tăng cường vai trò, năng lực của tổ
chức công đoàn và công tác thanh tra,
kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước.
c) Đối với doanh nghiệp nhà nước
- Nhà nước
quy định nguyên tắc chung để xác định tiền lương
và tiền thưởng đối với doanh nghiệp nhà nước gắn với
năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, hướng đến
bảo đảm mặt bằng tiền lương trên thị trường. Thực hiện giao
khoán chi phí tiền lương, bao gồm cả tiền thưởng trong
quỹ lương gắn với nhiệm vụ, điều kiện sản xuất kinh doanh,
ngành nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp; từng
bước tiến tới thực hiện giao khoán, nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh gắn với kết quả, hiệu quả quản lý và sử dụng vốn
nhà nước của doanh nghiệp.
- Phân định
rõ tiền lương của người đại diện vốn nhà nước với tiền
lương của ban điều hành; thực hiện nguyên tắc ai
thuê, bổ nhiệm thì người đó đánh giá
và trả lương. Nhà nước quy định mức lương cơ bản, tiền
lương tăng thêm và tiền thưởng theo năm gắn với quy
mô, mức độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản
xuất kinh doanh, sử dụng vốn nhà nước đối với người đại diện
vốn nhà nước. Mức lương cơ bản được điều chỉnh phù hợp
theo mức lương của thị trường trong nước và khu vực. Từng bước
tiến tới thuê hội đồng thành viên độc lập và
trả lương cho hội đồng thành viên, kiểm soát
viên từ lợi nhuận sau thuế. Tổng giám đốc và
các thành viên ban điều hành làm
việc theo chế độ hợp đồng lao động và hưởng lương trong quỹ
lương chung của doanh nghiệp, trong đó có khống chế mức
lương tối đa theo kết quả sản xuất kinh doanh và mức tiền lương
bình quân chung của người lao động. Thực hiện công
khai tiền lương, thu nhập hằng năm của người đại diện vốn nhà
nước và tổng giám đốc doanh nghiệp nhà
nước.
- Đối với doanh nghiệp làm nhiệm vụ bình ổn
thị trường theo nhiệm vụ được Nhà nước giao thì
tính toán, xác định để loại trừ những chi
phí bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường,
làm cơ sở xác định tiền lương, tiền thưởng của người lao
động và người quản lý doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp
dịch vụ công ích, Nhà nước tính
đúng, tính đủ chi phí tiền lương phù hợp
với mặt bằng thị trường vào chi phí, đơn giá sản
phẩm, dịch vụ công ích. Nhà nước thực hiện
chính sách điều tiết thu nhập bảo đảm hài
hoà lợi ích giữa doanh nghiệp, người quản lý,
người lao động và Nhà nước.
III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Đẩy mạnh công tác thông
tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục
tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải
cách chính sách tiền lương đối với cán bộ,
công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người
lao động trong các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, đổi
mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng
thuận cao ở các cấp, các ngành, các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và
toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về
chính sách tiền lương.
2. Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ
thống vị trí việc làm, coi đây là giải
pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải
cách tiền lương
- Trên cơ sở tổng kết việc thực hiện pháp luật
cán bộ, công chức, viên chức; chọn lọc tiếp thu
kinh nghiệm tốt của quốc tế, rà soát bổ sung,
hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về vị
trí việc làm và các tiêu chí
đánh giá, phân loại cán bộ, công
chức, viên chức gắn với từng vị trí việc làm trong
khu vực công để làm căn cứ tuyển dụng, sử dụng,
đánh giá và trả lương đối với cán bộ,
công chức, viên chức.
- Các cơ quan, tổ
chức, đơn vị trong hệ thống chính trị trực tiếp xây dựng
và hoàn thiện danh mục vị trí việc làm,
bản mô tả công việc, xác định cơ cấu công
chức, viên chức, cấp bậc hàm sỹ quan; xác định
khung năng lực theo từng vị trí việc làm và tinh
giản biên chế theo các nghị quyết của Đảng và quy
định của Nhà nước đã được ban hành. Trên cơ
sở đó, thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy, cơ cấu lại
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lực
lượng vũ trang để thực hiện trả lương theo vị trí việc
làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo.
3. Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới
- Thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo
xây dựng và quản lý chính sách tiền
lương của toàn hệ thống chính trị. Bộ Chính trị
quyết định chủ trương, nguyên tắc và giao Ban cán
sự đảng Chính phủ chỉ đạo Chính phủ cụ thể hóa
việc thống nhất quản lý, ban hành hoặc trình cấp
có thẩm quyền, ủy quyền cho cơ quan chức năng ban hành
văn bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức,
viên chức và lực lượng vũ trang từ Trung ương đến cấp
xã.
- Sau khi báo cáo Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị quyết định việc phân loại chức
vụ tương đương trong hệ thống chính trị làm căn cứ
xây dựng bảng lương mới.
- Các cơ quan chức
năng của Đảng và Nhà nước xây dựng văn bản quy
định chế độ tiền lương mới báo cáo Bộ Chính trị
xem xét, quyết định trước khi ban hành, để từ năm 2021
thực hiện chuyển xếp lương cũ sang lương mới theo nguyên tắc bảo
đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.
4. Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài
chính, ngân sách, coi đây là nhiệm
vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính
sách tiền lương
- Thực hiện quyết liệt và có hiệu quả các
nghị quyết của Trung ương về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới
mô hình tăng trưởng; về hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về phát triển
kinh tế tư nhân; về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết của Bộ Chính trị
về cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý
nợ công nhằm phát triển nguồn thu bền vững, tăng cường
vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.
-
Triển khai các nhiệm vụ cơ cấu lại thu ngân sách
nhà nước theo hướng bảo đảm tổng nguồn thu và cơ cấu thu
bền vững. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính
sách thu theo hướng mở rộng cơ sở thuế, bao quát nguồn
thu mới. Tăng cường quản lý thu, tạo chuyển biến căn bản trong
việc chống thất thu, xử lý và ngăn chặn các
hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất kinh
doanh hàng giả, chuyển giá, trốn thuế. Thực hành
tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí trong sử dụng
ngân sách nhà nước và đầu tư xây dựng
cơ bản. Quyết liệt thu hồi tài sản trong các vụ
án tham nhũng, kinh tế.
- Hằng năm, dành khoảng
50% tăng thu dự toán và 70% tăng thu thực hiện của
ngân sách địa phương, khoảng 40% tăng thu ngân
sách Trung ương cho cải cách chính sách
tiền lương.
- Tăng cường quản lý, nâng cao
hiệu quả chi ngân sách nhà nước; tiếp tục thực
hiện tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên tăng
thêm hằng năm cho đến khi thực hiện khoán quỹ tiền lương
trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền
giao.
- Nguồn thực hiện cải cách chính
sách tiền lương còn dư sau khi bảo đảm điều chỉnh mức
lương cơ sở hằng năm và bảo đảm các chính
sách an sinh xã hội do Trung ương ban hành (đối
với ngân sách địa phương), các dự án đầu tư
theo quy định (đối với các địa phương có tỉ lệ điều
tiết) theo nghị quyết của Quốc hội phải tiếp tục sử dụng để thực hiện
cải cách chính sách tiền lương sau năm 2020,
không sử dụng vào mục đích khác khi
không được cấp có thẩm quyền cho phép.
- Bãi bỏ các khoản chi ngoài lương của cán
bộ, công chức, viên chức có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước như: Tiền bồi dưỡng họp; tiền bồi dưỡng
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án; hội
thảo... Thực hiện khoán quỹ lương gắn với mục tiêu tinh
giản biên chế cho các cơ quan, đơn vị. Mở rộng cơ chế
khoán kinh phí gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Không gắn mức lương của cán bộ, công chức,
viên chức với việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các
văn bản quy định chính sách, chế độ không
có tính chất lượng. Nghiên cứu quy định
khoán các chế độ ngoài lương (xe ô
tô, điện thoại...). Chỉ ban hành các chính
sách, chế độ mới khi đã bố trí, cân đối
được nguồn lực thực hiện.
- Đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi từ
phí sang thực hiện giá dịch vụ sự nghiệp công,
từng bước tính đúng, tính đủ các chi
phí đối với các loại dịch vụ cơ bản, thiết yếu, đồng
thời gắn với chính sách hỗ trợ phù hợp cho người
nghèo, đối tượng chính sách. Đối với giá
dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân
sách nhà nước, giao quyền tự chủ cho các đơn vị
cung ứng dịch vụ tự quyết định theo nguyên tắc bảo đảm bù
đắp chi phí và có tích lũy.
Đơn vị
sự nghiệp công lập đã tự chủ tài chính phải
tự bảo đảm nguồn để thực hiện cải cách chính sách
tiền lương. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm một phần
chi thường xuyên, tiếp tục sử dụng tối thiểu 40% số thu được để
lại theo chế độ (riêng ngành Y tế sử dụng tối thiểu 35%
sau khi trừ các chi phí đã kết cấu vào
giá dịch vụ), tiết kiệm 10% chi thường xuyên nguồn
ngân sách tăng thêm hằng năm và sắp xếp từ
nguồn dự toán ngân sách nhà nước được giao
để bảo đảm nguồn thực hiện cải cách chính sách
tiền lương.
Đơn vị sự nghiệp công lập không
có nguồn thu do ngân sách nhà nước bảo đảm
toàn bộ chi thường xuyên, thực hiện tiết kiệm 10% chi
thường xuyên nguồn ngân sách tăng thêm hằng
năm và sắp xếp từ nguồn dự toán ngân sách
nhà nước được giao để thực hiện cải cách chính
sách tiền lương.
5. Triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị
quyết Trung ương 6 khóa XII và các đề án
đổi mới, cải cách trong các ngành, lĩnh vực
có liên quan là công việc rất quan trọng
để cải cách chính sách tiền lương một
cách đồng bộ
Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới,
tinh giản, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức bộ
máy của hệ thống chính trị, các đơn vị sự nghiệp
công lập. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu các
cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị và
người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập với việc thể
chế hóa và thực hiện các Nghị quyết Trung ương 6
khóa XII, đặc biệt là việc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ
máy, tinh giản biên chế người hưởng lương, phụ cấp từ
ngân sách nhà nước, cơ cấu lại đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức, tạo nguồn bền vững cho cải
cách chính sách tiền lương.
6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
- Sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về cán bộ,
công chức, viên chức, lao động, doanh nghiệp, bảo hiểm
xã hội và pháp luật có liên quan đến
chính sách tiền lương trong khu vực công và
khu vực doanh nghiệp; đẩy mạnh phân cấp, giao quyền tự chủ cho
các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tuyển dụng, sử dụng,
đánh giá, bổ nhiệm, kỷ luật, trả lương và quản
lý đối với cán bộ, công chức, viên chức
và người lao động trong doanh nghiệp để nâng cao năng
suất, chất lượng và hiệu quả của cơ quan, tổ chức, đơn vị,
doanh nghiệp. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đối tượng
và tiền lương của cán bộ, công chức, viên
chức, bảo đảm liên thông, tích hợp với các
cơ sở dữ liệu quốc gia khác có liên quan.
-
Hoàn thiện cơ chế thỏa thuận về tiền lương trong doanh nghiệp
thông qua việc thiết lập cơ chế đối thoại, thương lượng
và thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ lao động
theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo đảm
hài hòa lợi ích của người lao động và
người sử dụng lao động, tạo sự đồng thuận cao. Phát triển tổ
chức và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức
công đoàn cơ sở, quản lý tốt việc thành lập
và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động. Cơ quan thống
kê của Nhà nước công bố mức sống tối thiểu hằng năm
để làm căn cứ xác định mức lương tối thiểu và
khuyến nghị các định hướng chính sách tiền lương;
tăng cường điều tra, công bố định kỳ thông tin, số liệu về
tiền lương và thu nhập của cả khu vực công và khu
vực thị trường. Nâng cao năng lực, hiệu quả công
tác nghiên cứu cơ bản và thiết kế chính
sách về lao động và tiền lương.
- Làm tốt
công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà
nước chuyên ngành với cơ quan quản lý nhà
nước về đầu tư, tài chính các cấp trong quản
lý, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
nhà nước, tránh chồng chéo, lãng
phí. Quy định rõ quyền hạn gắn với trách nhiệm
người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ
chức, đơn vị. Tăng cường công khai, minh bạch và
trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức,
đơn vị của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính
trị-xã hội.

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thảo luận Đề án cải cách chính sách tiền lương. (Nguồn: TTXVN)
- Đẩy mạnh công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát thực hiện chính
sách tiền lương theo quy định của pháp luật trong doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước và
tổ chức chính trị - xã hội. Kiên quyết xử
lý nghiêm các trường hợp cố tình né
tránh, thực hiện không nghiêm túc hoặc
không thực hiện nhiệm vụ được giao trong thực hiện cải
cách chính sách tiền lương gắn với cải
cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy,
tinh giản biên chế, tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công
lập và vi phạm quy định của pháp luật về tiền lương.
Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số và cơ chế báo
cáo định kỳ, công khai, minh bạch thông tin, số
liệu về tổ chức bộ máy nhà nước, đơn vị sự nghiệp
công lập, các khoản chi tiền lương trong khu vực công.
7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai
trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội
- Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, các
cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến
địa phương lãnh đạo triển khai thực hiện đồng bộ các
giải pháp thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị
mình bảo đảm thực hiện cải cách chính sách
tiền lương đạt kết quả, mang lại hiệu ứng tích cực cho nền kinh
tế.
- Phát huy vai trò của các tầng lớp
nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội trong giám sát, phản
biện việc thực hiện cải cách chính sách tiền
lương đồng bộ với sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên
chế, đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý đối với
các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Nâng cao vai
trò và năng lực của tổ chức công đoàn
là tổ chức đại diện của người lao động trong quan hệ lao động
phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các tỉnh ủy, thành ủy,
các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy
trực thuộc Trung ương xây dựng chương trình, kế hoạch
hành động thực hiện Nghị quyết với lộ trình và
phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ
quan, đơn vị thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng
ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị.
2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo
xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp phục vụ
triển khai thực hiện Nghị quyết; tăng cường giám sát của
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc,
các ủy ban của Quốc hội đối với việc cải cách
chính sách tiền lương.
3. Ban cán sự đảng Chính phủ chủ
trì, phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội, Ban Tổ chức Trung
ương xây dựng các văn bản quy định chế độ tiền lương mới,
lộ trình thực hiện phù hợp với tình hình
kinh tế, khả năng ngân sách nhà nước để
trình Bộ Chính trị, trên cơ sở đó
trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban
hành theo thẩm quyền phù hợp với quan điểm, mục
tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cải cách
chính sách tiền lương.
4. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ
trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức
việc học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu
rộng Nghị quyết, kết quả thực hiện Nghị quyết.
5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội các cấp
xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát
thực hiện Nghị quyết.
6. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối
hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên theo
dõi, kiểm tra, đôn đốc triển khai tổ chức thực hiện Nghị
quyết, định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính
trị, Ban Bí thư.
Theo Việt Nam plus
Xã Hát Môn công bố quyết định thành lập 9 trường, kiện toàn tổ chức Đảng
Bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hạ tầng sản xuất tập trung tại xã Phú Xuyên
Xã Thượng Phúc kiện toàn hệ thống trường học công lập, thành lập 6 Đảng bộ nhà trường sau sắp xếp
Xã Hòa Lạc kiện toàn lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, tăng cường năng lực công tác kiểm tra, giám sát